‘Xuất khẩu nông sản quá nhiều vào một thị trường sẽ còn bị ép giá’



Có hơn 20 năm tham dự thị phần xuất khẩu và tham vấn cho nhiều tổ chức hoa quả, nông phẩm giữa Việt Nam và Trung Quốc, bà Thực cho rằng Việt Nam cần nhìn lại, thẩm định tương đốich quan xem đang ở đâu trong chuỗi trị giá toàn cầu.

Chuyên gia Nguyễn Thị Thành Thực. Ảnh: NVCC

Chuyên gia Nguyễn Thị Thành Thực. Ảnh: NVCC

– Phái đoàn EC vừa sang Việt Nam coi xét về “thẻ vàng” thủy sản. Bà thẩm định gì về động thái này?

– Quan điểm của tôi là “nhập gia tùy tục”, tôi và các bạn cần phải tuân thủ những quy định của đối tác khi ta muốn vào thị phần họ. Xã hội càng lớn mạnh, con người càng văn minh thì việc tôn trọng và che chở nguồn lợi khi không, không tận diệt là chuyện thế tất.

Có rất nhiều động thái cho thấy sự chỉ đạo quyết liệt của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với Tổng cục thủy sản. Tuy nhiên có nhẽ các điều kiện về đầu tư trang thiết bị, chuyên môn của ngư gia còn nhiều kỹ năng chưa đáp ứng được buộc phải sáng tỏ về nguyên cớ thủy sản.

– Đây không phải là lần ban sơ nông lâm thủy cung ứng khẩu của Việt Nam bị “tuýt còi”. Theo bà, vấn đề chủ chốt của bài toán xuất khẩu này là gì?

– Theo tôi, chủ chốt của vấn đề là chuỗi cung ứng của tôi và các bạn quá yếu và rời rạc. Mạnh ai nấy khiến cho cho và ai cũng muốn khiến cho cho “ông chủ”. Vì thế ai cũng nghĩ đến lợi ích của mình trước khi nghĩ đến lợi ích của cả chuỗi. Hậu quả là ai cũng “giữ miếng” của mình, không san sớt tin tức, không cùng nhau tính toán để tiết giảm giá tiền hoặc hỗ trợ tin tức để hạn chế rủi ro.

Tôi luôn ý hợp tâm đầu câu “đắt hàng tôi mới trôi hàng bà”. Khi mua hàng tôi luôn gắng sức hiểu người bán cho mình họ có lợi không? Họ có thể bán cho mình giá cao hơn hay phải chăng hơn ? Đến mức nào thì họ còn khiến cho cho được? Chi phí thời cơ của họ là gì? Người mua hàng của tôi, họ mua hàng về khiến cho cho gì ? Nếu chẳng thể mua của mình họ có thể mua từ ai và ở đâu – liệu đó có phải đối thủ của mình?…

Thực tế, tôi và các bạn chưa có lề thói khiến cho cho việc có chiến lược, và đặc thù là chiến lược theo chuỗi cung ứng. Vì thế hay xảy ra hiện trạng mất thăng bằng cung – cầu. Khi khiến cho cho chiến lược thì sẽ tính được chừng độ rủi ro, đối thủ khó khăn, mặt hàng thay thế… và có những thời điểm, thời vụ chơi còn lãi hơn khiến cho cho.

Một vấn đề thế tất khi nông nghiệp Việt Nam muốn tham dự chuỗi trị giá toàn cầu là sáng tỏ. Việc tầm nã xuất nguyên cớ đến tận nơi cung ứng, càng phần đông thì sức thuyết phục càng cao. Hiện các mặt hàng của Việt Nam thường chỉ tầm nã xuất đến nhà cung cấp. Một doanh nghiệp/ hợp tác xã/cơ sở vật chất chế biến, họ có thể cung ứng hoặc thu mua mặt hàng từ nhiều nguồn tương đốic nhau, giống, quy trình… tương đốic nhau, khó có thể khiến cho người sử dụng thông thái chấp nhận.

Việc cung ứng biện pháp tầm nã xuất nguyên cớ mặt hàng đang như “ma trận”, khiến cho thị phần rối thêm. Chúng ta đi sau các nước lớn mạnh, nhưng tôi và các bạn có nhiều thời cơ để vận dụng ngay những biện pháp đương đại nhất, đáp ứng buộc phải của những thị phần khắt khe nhất.

– Trung Quốc hiện vẫn là thị phần nhập cảng nhiều nhất rau quả của Việt Nam chãn hữu 77% tổng kim ngạch xuất khẩu trong 4 tháng đầu năm, bỏ xa Mỹ (2,84%) và Nhật Bản (2,7%). Tại sao lại có sự không cân bằng này?

– Thứ nhất, là vì nhu nhà vẹ sinh sử dụng nội địa của Trung Quốc quá lớn với hơn 1,4 tỷ dân; tuy nhiên còn nhu cầu chế biến để xuất khẩu. Họ mua mặt hàng thô và chế biến ra các cấp độ, thiết bị kỹ thuật nhiều hình thức, giá phải chăng nên có nhiều ưu thế khó khăn.

Thứ hai, liên lạc chuyển vận giữa Việt Nam và Trung Quốc nhanh, thuận lợi hơn so với các thị phần Mỹ, Nhật Bản. Trung Quốc có rất nhiều chính sách ưu đãi kịp thời cho cung ứng chế biến nông phẩm phẩm. Văn hóa, tiếng nói giao thương nhiều đời tạo ra 1 hàng ngũ cần lao và thương lái ở tầng trung gian tương đối phong phú và hiểu nhau để tạo thành chuỗi cung ứng nhanh, mạnh.

– Việc tập hợp vào 1 thị phần xuất khẩu gây ra rủi ro gì cho nông phẩm Việt Nam?

– Việc tập hợp vào 1 thị phần xuất khẩu quá lớn cố nhiên cũng có nhiều rủi ro. Khi chính sách, quan hệ đổi thay sẽ tác động lớn đến cung ứng của tôi và các bạn. Đặc biệt khi Việt Nam chính yếu xuất thô trị giá gia tăng không cao, rủi ro lớn, tỷ lệ mặt hàng hư hao, kém có bảo hành lâu dài nảy sinh trong thời kỳ lưu thông cao nên dễ bị ép giá.

Vải thiều tại trung tâm chiếu xạ trước khi dán nhãn niêm phong, chuyển tới kho lạnh chờ xuất khẩu. Ảnh: Ngọc Thành

Vải thiều tại địa bàn chiếu xạ trước khi dán nhãn niêm phong, chuyển tới kho lạnh chờ xuất khẩu sang Australia. Ảnh: Ngọc Thành

Việt Nam xuất quá nhiều vào 1 thị phần được cho là dễ tính thì nguy cơ lớn bị ép khi họ không còn “dễ tính”. Nhưng nghiêm trọng nhất là tôi và các bạn không chịu đổi thay để tăng tiến chuyên môn, tăng tiến trị giá mặt hàng vì “thượng vàng hạ cám” đều bán được.

Tập trung vào bán thô và thị phần dễ tính có nhẽ là xuất xứ chính khiến cho tôi và các bạn tụt hậu trong ngành nghề nông phẩm. Một điều lạ là Việt Nam xuất khẩu tới 77% vào thị phần Trung Quốc, nhưng chính yếu đợi họ đến mua. Vì thế, tôi và các bạn không có thời cơ tiếp cận nhanh những nhu cầu mới của họ; không nắm được họ mua mặt hàng về khiến cho cho gì. Và họ có thể thay thế mặt hàng của tôi và các bạn bằng mặt hàng nào… Nói chung Việt Nam còn yếu trong kỹ năng liên kết chuỗi .

– Theo bà, Việt Nam thích hợp với nhiều hình thức thị phần hay 1 đôi thị phần dành đầu tiên? Tại sao?

– Theo tôi, Việt Nam có nhiều thời cơ để nhiều hình thức thị phần. Vì điều kiện vị trí địa lý, nhiều hình thức khí hậu thổ nhưỡng, ổn định chính trị, có nhiều nguồn gen bản địa, đặc sản quý hãn hữu .. là những thứ mà nhiều nơi ước ao. Đặc biệt kỹ năng triển khai theo cách thức luân canh cây trồng vật nuôi tạo dinh dưỡng hồi quy cho đất là giá tiền phải chăng nhất để có nền cung ứng hữu cơ xuất sắc. Hiện nhu cầu của người có thu nhập cao trong nước nói riêng và trên toàn cầu đại quát ngày 1 hướng tới mặt hàng hữu cơ, khi không không biến đổi gen…

Đa dạng thị phần vừa là khuynh hướng thế tất, vừa là điều kiện để tôi và các bạn tham dự chuỗi cung ứng toàn cầu, vừa là thời cơ để mua kiếm những thị phần tiêu thụ mới cũng như nguồn cung mới cho nhu nhà vẹ sinh sử dụng và chế biến trong nước. Đa dạng thị phần có tính hai chiều chứ không đơn giản là chỉ đi bán hàng.

– Làm thế nào để Việt Nam nhiều hình thức hóa thị phần xuất khẩu thời kì tới?

– Chúng ta cần nhìn lại mình, thẩm định 1 cách tương đốich quan xem tôi và các bạn đang ở đâu trong chuỗi trị giá toàn cầu. Thế mạnh dị biệt của tôi và các bạn là gì? Nếu cần đầu tư kỹ thuật cao hàng triệu USD trên 1 héc ta tôi và các bạn có kỹ năng khó khăn hay không? Cần có lịch trình từng bước vận dụng kỹ thuật thích hợp để người cần lao cũng như cán bộ chủa quản hiểu và đổi thay lề thói.

Bên cạnh đó, cần có 1 định hướng rõ ràng, xác định thị phần chiến lược, mặt hàng chủ lực trong từng thời kỳ. Trên cơ sở vật chất đó sẽ có trật tự dành đầu tiên, tập hợp nguồn lực cho từng địa bàn ngành nghề hàng, trong lúc ngân sách còn hạn hẹp không nên đầu tư tràn lan, manh mún.

Ví dụ thời kỳ hiện giờ Trung Quốc vẫn là thị phần chiến lược số 1, tôi và các bạn cần tập hợp nghiên cứu kỹ lưỡng tính thời vụ để có cái nhìn tổng quan và chiến lược cung ứng trong nước để hạn chế bị “dội chợ”. Kể cả trùng vụ thì mặt hàng của họ vẫn khó khăn ngay tại thị phần Việt Nam. Như vải thiều, dưa đỏ, thanh long thị phần chính vẫn là Trung Quốc, nhưng diện tích và sản lượng của họ lớn hơn tôi và các bạn rất nhiều, tôi và các bạn chỉ xuất được giá khi lệch vụ với họ.

Nhà nước nên hỗ trợ thúc đẩy thương nghiệp ở các thị phần chiến lược và đưa tổ chức vào cuộc, vì tổ chức mới có kỹ năng nắm bắt nhanh nhạy và kết nối trực tiếp với thị phần. Cần có những đầu tư tại chỗ để PR, giới thiệu và mua kiếm nhiều hình thức người mua, hạn chế để hiện trạng bị thâu tóm.

Chúng ta nên chú trọng sơ chế bảo quản, chế biến nhiều hình thức mặt hàng. Hiện Việt Nam xuất tươi với tỷ trọng quá lớn, chỉ nên không quá 40% sản lượng, chỉ bán tươi những mặt hàng loại 1 để có trị giá cao, có thương hiệu tốt. Nông sản tươi cần chế độ chuyển vận bảo quản tương đối kỹ lưỡng nên cần nghiên cứu các cách thức kỹ thuật thích hợp để sơ chế bảo quản chế biến nhiều hình thức mặt hàng. Nếu không tôi và các bạn sẽ khó có thể xuất khẩu đi các nước xa và thị phần khắt khe.

Một địa bàn rất không được lãng quên để giới thiệu PR mặt hàng, mua kiếm thị phần đó là địa bàn du hý . Khách du hý thường mua kiếm các sản vật của nơi đến để thưởng thức và tương đốim phá. Nhưng các địa bàn đó hình ảnh các mặt hàng Việt Nam chưa được coi trọng về có bảo hành lâu dài, ngoài mặt, cũng như sự hiểu biết của người bán hàng. Vì thế, liên minh du hý nông nghiệp là việc cần sớm được quan tâm, đầu tư cho những vùng mặt hàng trung tâm.

Nhà nước cần có chế tài và lịch trình sớm đưa thành luật với cả các hộ dân cày,tổ chức nông nghiệp trong việc sử dụng các hóa chất độc hại. Một cảnh báo cấp độ cao cho môi trường đất và nước ở những vùng chuyên canh trồng cây ăn trái, rau, hoa cây cảnh và đồng bào vùng cao lạm dụng thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng; hạn chế việc bị “rút thẻ” như ngành nghề thủy sản vừa qua.

Thanh Thư

Nằm trong chuỗi chuyên đề thuộc Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2018, Diễn đàn chuyên đề Nông nghiệp – Giải pháp lớn mạnh cho nông phẩm Việt sẽ mở đầu vào sáng 5/6.

Diễn đàn là nơi các cơ quan chủa quản, giới chuyên gia và tổ chức cùng bàn thảo hai nội dung chính là vấn đề mở mang thị phần cho nông phẩm Việt, vận dụng kỹ thuật vào nông nghiệp. Diễn đàn do Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân hợp tác thực hành cùng Báo điện tử VnExpress. Theo dõi chương trình và đăng ký tham dự tại đây: https://vief.vnexpress.net/