VEPR: GDP tăng 6,65% năm 2018



Câu chuyện tăng trưởng và những vướng mắc trong di chuyển cơ cấu kinh tế là 1 trong những chủ đề vượt trội tại buổi thông báo Báo cáo Kinh tế vĩ mô Quý IV/2017, do Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) tổ chức sáng nay (16/1).

Theo tính toán của VEPR, tăng trưởng kinh tế năm 2018 được dự đoán chỉ đạt 6,65%, phải chăng hơn mức 6,81% của năm 2017 với lạm phát duy trì ở ngưỡng 4%. Trong đó, tăng trưởng kinh tế theo quý sẽ tăng dần với mức phải chăng nhất vào quý I/2018 là 6,02% và cao nhất vào quý IV với 7,27%.

Theo thẩm định của hàng ngũ nghiên cứu, kinh tế vĩ mô tuy đã có sự ổn định, nhưng nhiều vấn đề nội tại cố hữu của nền kinh tế vẫn chưa được khắc phục triệt để. Điều này sẽ vẫn là lực cản đối với nền kinh tế trong mai sau. Trong đó, 3 vấn đề được VEPR nhấn mạnh là năng suất cần lao, thâm hụt ngân sách và sự phụ thuộc vào địa bàn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

VEPR dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2018 sẽ đạt 6,65%, thấp hơn mức tăng 6,81% của năm 2017. Ảnh: VEPR

VEPR dự đoán tăng trưởng kinh tế năm 2018 sẽ đạt 6,65%, phải chăng hơn mức tăng 6,81% của năm 2017. Ảnh: VEPR

“Động lực tăng trưởng kinh tế vẫn chưa đến từ việc tăng năng suất cần lao. Năng suất cần lao của Việt Nam vẫn ở mức phải chăng so với các nước trong địa bàn, chỉ bằng 1/4 Singapore, 1/6 so với Malaysia và 1/3 so với Thái Lan”, báo cáo của VEPR nhận định về vấn đề trước hết của nền kinh tế. Theo thẩm định của hàng ngũ nghiên cứu, giả sử không có những giải pháp tổng thể giúp tăng tiến năng suất cần lao trong mai sau gần, trong bối cảnh cơ cấu dân số vàng sắp đi qua, Việt Nam sẽ khó có thể duy trì được đà tăng trưởng như ngày nay.

Nhắc đến vấn đề năng suất cần lao, chuyên gia kinh tế Trương Đình Tuyển cho rằng năng suất cần lao Việt Nam được cải thiện sẽ phụ thuộc vào sự di chuyển giữa các lĩnh vực có năng suất phải chăng sang lĩnh vực năng suất cao và di chuyển nội lĩnh vực, không những thế không có nhiều kết quả được ghi nhận trong năm 2017.

Phần lớn sự di chuyển lĩnh vực và nội lĩnh vực trong năm vừa qua phụ thuộc vào hàng ngũ tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Trong khi khối tổ chức tư nhân vẫn chưa có nhiều chuyển biến.

“Nhóm tổ chức FDI chiếm tới 50% trị giá phân phối công nghiệp, 72% trị giá xuất khẩu và đóng góp 20% GDP. Chính hàng ngũ này mới tạo ra đóng góp chính vào tăng trưởng và sự đổi thay của năng suất cần lao. Còn động lực chính được kể đến vừa mới đây là khối tổ chức tư nhân hầu như chơi có chuyển biến”, ông Tuyển kể.

Nhắc đến câu chuyện này, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng diễn biến lớn mạnh của khối tổ chức tư nhân phải nhìn từ 2 góc cạnh, phía tổ chức thành lập mới và số tổ chức rời khỏi thị phần. Tuy nhiên, giả sử nhìn nhận đúng thì diễn biến này “đáng lo hơn là đáng khen”.

Chuyên gia kinh tế Trương Đình Tuyển và Phạm Chi Lan. Ảnh: VEPR

Chuyên gia kinh tế Trương Đình Tuyển và Phạm Chi Lan. Ảnh: VEPR

“Số tổ chức đăng ký mới tăng lên nhưng số tổ chức ra khỏi thị phần vẫn còn rất cao. Đây là những tổ chức đã có hoạt động, có đóng góp mà vẫn không trụ được”, bà Lan nhận định và cho rằng, áp lực từ hội nhập và trạng thái “trên nóng, dưới lạnh” vẫn là những khởi thủy chính.

Tuy nhiên, bà Lan cũng thẩm định đã có những di chuyển hăng hái trong riêng từng lĩnh vực, mà tại đó năng suất cần lao đã có sự chuyển biến. “Trong lĩnh vực công nghiệp thì khai khoáng đã giảm, chế biến chế tác tăng dần tỷ trọng. Nông nghệp cũng có sự di chuyển sang nông nghiệp khoa học cao. Đây là những kết quả cần ghi nhận”, bà Lan kể.

Ngoài vấn đề năng suất cần lao, VEPR cũng thẩm định thâm hụt ngân sách và nợ công tăng cao tiếp diễn là vấn đề hiểm nguy cản trở nền kinh tế. Trong khi đó, nguồn vốn chi đầu tư vẫn còn tránh. “Trong bối cảnh các nhà tài trợ nước ngoài tuần tự rút dần và chỉ cho vay với mức lãi suất kém ưu đãi, Việt Nam cần dùng nhiều hơn nội lực để tạo động lực cho tăng trưởng”, báo cáo viết.

Đánh giá về đề nghị tính toán lại với quy mô GDP của nền kinh tế, TS Nguyễn Đức Thành cho rằng điều này có thể tạo dư địa để mở mang tỷ lệ vay nợ, không những thế việc tính toán cần phải bàn thảo kỹ lưỡng.

“Nguyên tắc tính toán của GDP là dựa trên những hoạt động có thể quan sát và thu thuế được, từ đó khiến tiêu chuẩn cho việc trả nợ, vốn được tính toán dựa theo GDP. Tuy nhiên giả sử tính thêm cả các địa bàn kinh tế phi chính thức vào quy mô GDP, mở mang dư địa vay nợ nhưng chưa coi xét kỹ về quy mô nguồn thu sẽ tạo tác động đến kỹ năng kỹ sảo chi trả”, TS Thành nhận xét.

Minh Sơn