Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân: ‘Đừng vì nợ xấu mà sợ cho vay’



Tại hội thảo “Phát triển thị phần mua bán nợ và xử lý nợ xấu tại Việt Nam” ngày 20/12, Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân – Thành viên Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, khi bàn về nợ, nên nhìn 2 góc cạnh hăng hái và bị động.

Ở 1 góc cạnh hăng hái, có thể nhìn nợ như là 1 “ân nhân”. Bởi đơn vị muốn vững mạnh và mở mang hoạt động buôn bán thì phải vay nợ. Còn người dân có thể vay tiền để tiêu pha, mua sắm của cải và tăng tiến uy tín cuộc sống. Riêng đối với nhà băng, dư nợ là khoảng mang đến nguồn thu chính (hiện tại chiếm hơn 80%) và khi dư nợ càng tăng thì nhà băng mới càng có lợi nhuận.

Tiến sĩ Ngân cũng cho rằng, nhìn lại diễn biến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 10 năm quay lại đây cho thấy, thời điểm dư nợ tăng cao cũng là lúc kinh tế tăng trưởng mạnh và trái lại.

tien-si-tran-hoang-ngan-dung-vi-no-xau-ma-so-cho-vay

Cho vay có kiểm soát thì sẽ không sợ nợ xấu. Ảnh: PV.

Cụ thể, năm 2007 khi dư nợ nguồn vốn vay tăng tới 54% thì kinh tế tăng trưởng 8,6% – mức cao nhất trong 10 năm qua. Trong khi đó, dư nợ nguồn vốn vay năm 2012 chỉ tăng 8,8% thì tăng trưởng kinh tế chỉ 5,2% – mức tăng trưởng phải chăng nhất của kinh tế Việt Nam trong 10 năm. “Qua đó, cho thấy, việc tăng trưởng nguồn vốn vay là rất không thể xem nhẹ cho sự tăng trưởng của kinh tế”, ông Ngân nhắc và cho rằng, cho vay thì dĩ nhiên sẽ phát sinh nợ xấu. Đây là vấn đề thường nhật.

Tuy nhiên, vị Thành viên Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, cái gì ở mức vừa phải cũng tốt hơn là quá. Do đó, dư nợ giả như để tăng nóng, thiếu sự kiểm soát sẽ dễ phát sinh nợ xấu cao, gây tắc nghẽn nền kinh tế. “Chúng ta tăng trưởng dư nợ nhưng phải cam đoan uy tín, có sự kiểm soát chặt để nợ xấu không tăng quá cao”, ông Ngân san sẻ và gửi thông điệp, đừng vì nợ xấu mà lại sợ cho vay nợ.

“Hãy nhìn nợ như ân nhân thì sẽ có cách xử lý đúng và không sợ nợ xấu”, Tiến sĩ Ngân nhắc và cho rằng, hiện tại do những còn đó những năm trước, nợ xấu Việt Nam tương đối cao và đang làm cho nghẽn mạch nền kinh tế. Do đó, cần phải có biện pháp xử lý để khơi thông nguồn vốn.

Liên quan đến câu chuyện nợ xấu, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, Công ty điều hành của cải các công ty nguồn vốn vay cho rằng, nợ xấu thực tiễn của Việt Nam những năm qua có thuộc tính phức tạp và quy mô lớn hơn số liệu báo cáo. Tuy nhiên, từ năm 2012-2016, toàn bộ máy các công ty nguồn vốn vay đã xử lý được hơn 611.000 tỷ đòng. Trong số nợ xấu đã xử lý này thì nợ bán cho VAMC chiếm tỷ trọng lớn nhất với với hơn 41%, tương đương trên 253.000 tỷ đồng, tiếp đến là các công ty nguồn vốn vay tự trích lập đề phòng rủi ro 25,4%; anh chị trả nợ gần 20%, còn lại là các hình thức xử lý tương đốic.

Theo ông Hùng, trong ba hình thức xử lý nợ xấu chiếm tỷ trọng cao nhất vừa kể trên thì hình thức bán nợ cho VAMC và công ty nguồn vốn vay tự trích lập đề phòng đang phát sinh nhiều vấn đề còn đó có thể ảnh hưởng đến sự vững mạnh lâu dài của nền kinh tế tương đốii quát, ngành nghề nhà băng nhắc riêng.

Với phương thức công ty nguồn vốn vay tự trích lập đề phòng, dễ dẫn đến nhiều ảnh hưởng bị động cho cả nhà băng, đơn vị và nền kinh tế. Vì để trích lập đề phòng thì nhà băng chỉ tiết giảm tầm giá nhằm tăng thu nhập là chưa đủ mà phải điều chỉnh tiêu chí buôn bán theo hướng giảm lãi suất huy động đồng thời tăng lãi suất cho vay. Như vậy, thiệt thòi rút cuộc là người gửi tiền và vay tiền cũng như làm cho đơn vị khó tiếp cận vốn.

Còn xử lý nợ xấu đã mua của các nhà băng tại VAMC, ông Hùng cho biết đang gặp nhiều cạnh tranh, vướng mắc do thị phần mua bán nợ chưa vững mạnh tại Việt Nam và do những rào cản về pháp lý khi xử lý của cải cam kết. “Việc bán, phát mãi của cải cam kết để thu hồi nợ đạt hiệu quả phải chăng. Khả năng trả nợ của anh chị cũng còn giảm thiểu do cung ứng buôn bán còn nhiều cạnh tranh”, ông Hùng phân tách.

Theo các chuyên gia, Việt Nam không thể xem nhẹ phải vững mạnh thị phần mua bán nợ và đây sẽ là bước tiến mới trong thời kỳ vững mạnh của thị phần nguồn vốn Việt Nam.

Tiến sĩ Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV cho biết, kinh nghiệm xử lý nợ xấu thành công tại nhiều nước có đặc điểm tương đồng với Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan… cho thấy, các nước này tương đối thành công trong việc vững mạnh thị phần mua bán nợ với sự tham dự đa dạng của các nhà đầu tư tư nhân.

Tuy nhiên, hiện thị phần mua bán nợ tại Việt Nam chưa vững mạnh do khung pháp lý chưa hoàn chỉnh, việc xử lý nợ còn gặp nhiều cạnh tranh trong việc định giá và thẩm định chừng độ tín nhiệm các khoản nợ. Việc thiếu hạ tầng dữ liệu bao quát về nợ xấu cũng là 1 cản trở lớn trong việc lôi kéo nhà đầu tư tham dự thị phần mua bán nợ.

Ngoài ra, ông Lực cho rằng, nợ xấu của Việt Nam hiện tại còn liên đới nhiều đến các đơn vị Nhà nước cũng là trở lực lớn trong việc mua bán nợ xấu.

Thanh Lê