Một phần tư dự án đầu tư ra nước ngoài thua lỗ



Con số này được nêu tại báo cáo giám sát của Quốc hội về thực hành chính sách, luật pháp về chủa quản, dùng vốn, của cải nhà nước tại tổ chức và cổ phần hóa tổ chức nhà nước quá trình 2011-2016. Theo chỉ tiêu, Quốc hội sẽ dành trọn bữa nay (28/5) để bàn thảo về báo cáo này.

Dữ liệu đáng chú ý trong báo cáo lần này là việc đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn, tổng tổ chức. Việc đầu tư ra nước ngoài được triển khai tương đối hăng hái”, Đoàn giám sát Quốc hội nhận xét.

Cuối năm 2016 có 18 tập đoàn, tổng tổ chức đầu tư vào 110 công trình ở nước ngoài, với tổng vốn đăng ký 12,6 tỷ USD, giải ngân 7 tỷ USD, cốt yếu trong lĩnh vực viễn thông, khảo sát khai thác dầu khí, khai thác khoáng sản, trồng cây cao su…

PVN là tập đoàn có số vốn đăng ký đầu tư ra nước ngoài lớn nhất, gần 6,7 tỷ USD (chiếm 53%), kế đến là Tập đoàn Viễn thông Quân nhóm (Viettel) 2,12 tỷ USD và Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 1,41 tỷ USD.

Lượng vốn “đổ” vào các công trình đầu tư ở nước ngoài lớn, song lại dàn trải, hiệu quả chưa cao, theo giám định của báo cáo giám sát. Trong 7 tỷ USD các tập đoàn đã giải ngân thì 25,5% công trình báo lỗ, 29% công trình lỗ lũy kế. Lợi nhuận được chia cho Việt Nam năm 2016 là 145 triệu USD, bình quân 2% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài thực hành.

Hoạt động khai thác dầu của PVN.

Hoạt động khai thác dầu của PVN.

Nhiều công trình đang tiềm ẩn rủi ro về pháp lý tại nước sở tại, như bị rút ngắn thời kì triển khai công trình, tranh chấp đất đai và rủi ro thị phần do giá đầu ra giảm mạnh… đã tác động lớn đến hiệu quả công trình. Có công trình bị giới hạn cấp bảo lãnh Chính phủ, buộc phải ngừng đã tác động nguy hiểm tới hiệu quả đầu tư.

“Một số công trình đầu tư ra nước ngoài không hiệu quả khi mà kỹ năng kỹ sảo chủa quản và kỹ năng kỹ sảo vốn đầu tư giảm thiểu, thiếu kiểm soát chặt chẽ, làm cho phân tán nguồn lực, tác động đến hiệu quả dùng vốn của tổ chức”, báo cáo của Đoàn giám sát Quốc hội nhắc.

Chẳng hạn, đầu tư của PVN tại công trình khảo sát khai thác dầu khí mỏ Nagumanov tại tỉnh Orenburg (Liên Bang Nga), công trình khai thác dầu tại Venezuela, công trình Lô 67 Peru…

Với các công trình đầu tư ra nước ngoài của Viettel, tập đoàn này đã đầu tư 10 thị phần tại 3 châu lục, trong đó 9 nước đã đưa vào buôn bán, còn Myanmar đang trong quá trình đầu tư. Tổng kế quả buôn bán đầu tư nước ngoài năm 2016 của Viettel gần 1,4 tỷ USD, góp 40% kế quả buôn bán đầu tư quốc tế của tổ chức này.

Năm 2016 công trình đầu tư tại Mozambique và Haiti có lãi nhưng do biến động tỷ giá nên tập đoàn này phải trích lập phòng ngừa không cân bằng tỷ giá chưa thực hành, gây ra lỗ kế toán quản trị. Ba công trình Viettel đầu tư tại Burundi, Cameroon, Tanzania còn lỗ, do khai thác dưới 3 năm, đang trong quá trình lỗ theo chỉ tiêu và sẽ có lợi nhuận từ năm thứ 3 sau buôn bán.

Kết quả giám sát cũng cho thấy, hiệu quả đầu tư vào tổ chức con, tổ chức liên kết của các tập đoàn, tổng tổ chức “chưa cao gây tác động không tốt đến kỹ năng kỹ sảo vốn đầu tư và hiệu quả dùng vốn tổ chức”. Trong số này nhiều công trình thua lỗ kéo dài buộc phải nhất thời giới hạn hoạt động, nCông ty CP Hóa dầu và Xơ sợi Dầu khí (PVTex), Tổng tổ chức cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC), Công ty Công nghiệp Tàu thủy Dung Quất (DQS)… của PVN.

Ghi nhận đóng góp, nỗ lực của tổ chức Nhà nước, không những thế bản báo cáo giám sát dài 52 trang cũng nêu không ít những bất cập trong hoạt động của các “ông lớn” quá trình 2011-2016. Đoàn giám sát của Quốc hội cho rằng,hiệu quả hoạt động của tổ chức Nhà nước còn chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ.

Cuối 2016 cả nước còn 583 tổ chức do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, 273 tổ chức cổ phần. Tổng của cải tại tổ chức Nhà nước giữ 100% là hơn 3,05 triệu tỷ đồng (tăng 45,8%), trong đó vốn Nhà nước gần 1,4 triệu tỷ.

Ghi nhận tổng của cải và vốn chủ sở hữu các tổ chức 100% vốn Nhà nước tăng tuần tự 45,8% và 92,2%, nhưng kế quả buôn bán, lợi nhuận trước thuế và tiền nộp ngân sách của số tổ chức này lại tăng rất chậm, 18% trong 6 năm. Cùng với đó, tổng nợ phải trả cao, từ gần 1,3 triệu tỷ đồng năm 2011 lên xấp xỉ 1,63 triệu tỷ vào cuối 2016.

“Doanh nghiệp Nhà nước cũng chưa phát huy được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, năng suất cần lao, hiệu quả cung cấp buôn bán phải chăng”, báo cáo giám sát nêu.

Hiệu suất sinh lời trên vốn buôn bán của các tổ chức Nhà nước đạt 2,1% năm 2015, phải chăng hơn nhiều so với tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài (5,5%). Một số tổ chức hoạt động yếu kém, làm cho ăn thua lỗ, tỷ lệ nợ phải trả trên tổng của cải cao, như Tập đoàn Hoá chất Việt Nam (Vinachem), Tập đoàn Than & Khoáng sản Việt Nam (TKV) hay Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN)…

Trước những bất cập trong chủa quản của cải, vốn Nhà nước tại các tổ chức Nhà nước, Đoàn giám sát Quốc hội buộc phải Chính phủ tiếp diễn xem xét lại hoạt động của các tập đoàn kinh tế, tổng tổ chức nhà nước theo quyết nghị của Đảng và Quốc hội. Từ đó, chỉ đạo, xử lý nghiêm các trường hợp xác định trị giá tổ chức không đúng quy định của luật pháp để trục lợi, gây thất thoát của cải, vốn nhà nước.

Chính phủ cũng cần vun đắp chế tài xử lý đối với các trường hợp không hoặc chậm thực hành kết luận của các cơ quan thanh tra, kiểm toán. Báo cáo Quốc hội về bổn phận của các bộ, ngành nghề, địa phương trong việc để xảy ra còn đó, giảm thiểu và các vi phạm về chủa quản dùng vốn, của cải nhà nước tại tổ chức và cổ phần hóa tổ chức Nhà nước, đồng thời làm cho rõ kết quả xử lý bổn phận của tập thể, tư nhân, đặc thù là người đứng đầu.

Nguyễn Hoài