Chính phủ vay tiền dân như thế nào trong 2 cuộc kháng chiến



Cách đây vài ngày, Bộ Tài chính có văn bản gửi UBND các tỉnh, thành thị trực thuộc Trung ương về việc trả nợ các khoản vay người dân trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Việc chi trả những khoản vay này trước đó đã được tiến hành nhiều lần suốt từ những năm cuối của thập niên 90.

Chính phủ khởi đầu thực hành chính sách vay dân bằng hình thức phát hành công thải từ tháng 7/1946 với đợt nhanh nhất ở Nam Bộ với tên gọi là công thải. Giá trị của đợt phát hành này chỉ 5 triệu đồng với lãi suất 5% 1 năm. Bộ Tài chính nhận định, tuy số lượng tiền phát hành chưa lớn nhưng có ý nghĩa khai mạc cho công đoạn thực hành chủ trương phát hành công thải của Chính phủ nhằm tạo ra nguồn lực nguồn vốn, sử dụng cho cho công cuộc kiến quốc.

chinh-phu-vay-tien-dan-nhu-the-nao-trong-2-cuoc-khang-chien

Hình ảnh công phiếu, công thải đất nước được Chính phủ phát hành trong những năm kháng chiến.

Công thải Nam Bộ khi đó quy định có ba loại 100 đồng, 500 đồng, và 1.000 đồng. Tuy nhiên, thực tại chỉ phát hành có 1 loại 100 đồng, bán bằng tiền Đông Dương trong các năm 1947 và 1948 ở Nam bộ. Công thải Nam Bộ không có phiếu lãi, không ghi tên, không ghi năm mua và nơi mua. Vì vậy khi trả tiền, các Khu, Sở Ty Tài chính sẽ tiêu chuẩn vào lời khai của chủ phiếu để tính trả. Lời khai phải ghi rõ năm mua phiếu và phải có chứng thực của cấp gánh vác chính quyền nơi bán phiếu để có thể lấy 1 trong các chứng thực đó.

Sau công thải Nam Bộ, Chính phủ đã nhiều lần phát hành công thải trên khuôn khổ rộng hơn. Năm 1948, Chính phủ phát hành 500 triệu đồng bạc công phiếu kháng chiến. Trong Sắc lệnh về nội dung này được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký khi đó nêu rõ, đợt phát hành nhằm 2 mục đích. Một là huy động số tiền nhàn rỗi trong dân để sử dụng cho cung ứng và chống chọi, và hai là sử dụng công phiếu kháng chiến như 1 thứ tiền dự trữ với lãi suất 3%, thời hạn trả lãi 5 năm.

Sắc lệnh cũng nêu rõ những “khái niệm” nhanh nhất về loại hình huy động còn mới mẻ này: “Trong những trường hợp và theo những thể thức do Bộ Tài chính ấn định, công phiếu kháng chiến sẽ lưu hành và có trị giá như giấy bạc, theo đúng sổ tiết ghi ở trên phiếu. Công phiếu kháng chiến cũng được miễn hồ hết các thứ thuế hiện có hoặc sẽ đặt ra, nhắc cả thuế trước bạ mỗi khi di chuyển”.

Sắc lệnh cũng giao Bộ trưởng Tài chính phụ trách việc phát hành công phiếu kháng chiến và cơ quan này đã cùng các địa phương công ty triển khai công phiếu kháng chiến trên toàn quốc. Các văn bản sau đó của Chính phủ được ban hành đã ấn định quy tắc và chỉ dẫn chi tiết hơn phát hành loại giấy má đặc trưng này.

Đến tháng 9/1950, trên ý thức tổng an ủi, Chính phủ cho phép phát hành loại công thải đất nước có trị giá ghi bằng thóc, với lãi suất 3%, có thời hạn 5 năm. Tổng số phát hành khi đó là 100.000 tấn thóc.

Trong suốt quá trình kháng chiến, Chính phủ đã phát hành công phiếu kháng chiến trong các năm 1948, 1949, 1950, 1951, 1952, công thải đất nước năm 1951, công thải Nam Bộ năm 1947, 1948; công phiếu nuôi quân năm 1964. Ngoài các hình thức đề cập trên, những khoản vay khác (tiền hoặc lương thực) do các cơ quan chính quyền từ cấp quận trở lên vay theo lệnh của cấp trên để mua sắm vũ khí, nuôi quân đánh giặc… cũng được tính vào khoản nợ với người dân.

chinh-phu-vay-tien-dan-nhu-the-nao-trong-2-cuoc-khang-chien-1

Trong suốt 2 cuộc kháng chiến, Chính phủ đã phát hành nhiều loại công phiếu có trị giá quy đổi thành tiền, thóc, thậm chí là vàng.

Việc trả tiền các khoản nợ cũng được Chính phủ tiến hành 1 số lần trong suốt quá trình kháng chiến. Cụ thể, từ cuối năm 1958, Thủ tướng đã ban hành chủ trương cho quy vốn mua công thải, công phiếu kháng chiến theo giá vàng ở Nam Bộ lúc mua và lấy giá vàng chính thức khi đó ở miền Bắc để trả tiền. Cơ quan điều hành huấn luyện việc trả tiền theo giá vàng mà không phải giá thóc nhằm cam đoan lợi ích cho người dân. Những văn bản sau đó cũng quy định cụ thể quy tắc, phương pháp trả tiền.

Khi đó, trong Thông tư chỉ dẫn, Bộ Tài chính cũng nêu rõ, đối với những số tiền lớn, chủ phiếu sẽ được trả trước 1 phần nhưng cần có chỉ tiêu giúp đỡ tiêu pha vào những việc có lợi ích thiết thực. Số tiền còn lại sẽ xét trả dần tùy theo nhu cầu và tình cảnh thực tại của mỗi chủ phiếu. Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành sẽ xét cụ thể chỉ tiêu tiêu pha và tình cảnh của chủ phiếu để đưa ra quy định.

Bộ Tài chính cũng bổ sung thêm thể thức trả tiền. Theo đó, chủ phiếu sẽ được nhận trước 1 phần tiền mới, số tiền còn lại, cơ quan nguồn vốn sẽ chuyển sang chi nhánh nhà băng để gửi vào tiểu khoản “tiền gửi đặc trưng” về công phiếu kháng chiến và công thải Nam Bộ. “Tiền gửi đặc trưng” sẽ đứng tên chủ phiếu, được tính lãi và chịu sự điều hành theo thể lệ chung của Nhà nước. Ở thời điểm đó, do mới triển khai việc chi trả nên Chính phủ, cơ quan điều hành đã phải ban hành nhiều văn bản để chỉ dẫn cũng như khắc phục những vướng mắc trong công đoạn trả tiền cho người dân.

Tuy nhiên, cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài nhiều năm sau đó nên việc trả tiền dù chưa hoàn thành nhưng bị đứt quãng cho đến năm 1979 khi Hội đồng Bộ trưởng có Chỉ thị về việc tiếp diễn chi trả. Khi đó, 1 số địa phương đã tiến hành chi trả, ngoài ra, do vấn đề phức tạp, việc chỉ dẫn lại chưa rõ ràng nên thực hành còn nhiều lúng túng. Một số địa phương đã trả tiền cả những khoản dân đóng góp để khiến cho sứ mệnh công dân, những khoản lạc quyên do chính quyền, đoàn thể ở cơ sở vật chất tự công ty để ủng hộ kháng chiến, uý lạo quân nhân. Nhiều địa phương khoán trắng cho ban trả tiền nợ dân và đã để xảy ra những sự việc lạm dụng, trả tiền tràn lan.

Đến đầu năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng ra Chỉ thị về việc trả tiền đề cập trên. Văn bản này nêu rõ, chỉ trả tiền những khoản mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vay dân để khắc phục nhu cầu tiêu pha không được xem nhẹ của Nhà nước trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Việc chi trả kéo dài và tản mạn những năm sau đó cho đến cuối năm 1998 khi Bộ Tài chính mới ra công văn cho biết thời hạn trả tiền các khoản nợ dân đề cập trên đã chấm dứt. Dù đã quá hạn 20 năm, song mới đây Bộ Tài chính lại mới yêu cầu các địa phương tiếp diễn trả tiền nợ đối với các trường hợp người dân còn hồ sơ gốc.

Đại diện cơ quan này cho biết đây là chỉ đạo của Phó thủ tướng Trương Hoà Bình nhằm cam đoan lợi quyền cho người dân. Nguồn kinh phí chi trả được lấy từ nguồn cam đoan xã hội của ngân sách địa phương.